NHỮNG THẮC MẮC THƯỜNG GẶP VỀ CUNG PHÚC ĐỨC VÔ CHÍNH DIỆU, MẪU NGƯỜI THÂN CƯ PHÚC ĐỨC

-

Cung Phúc Đức chưởng quản về mặt cảm thụ tinh thần. Phân tích Cung Phúc Đức, chúng ta sẽ thấy được trạng thái tinh thần, sự cảm thụ và phương thức tư tưởng của mỗi con người cụ thể trong đời sống xã hội…

Khi luận đoán, Cung Phúc Đức gắn chặt với các cung : Cung Tài Bạch, Cung Phu Thê, Cung Thiên Di. Có nghĩa là khi xem xét Cung Phúc Đức, đồng thời phải xem xét cẩn thận các Cung Tài Bạch, Phu Thê, Thiên Di để có thể đưa ra lời luận đoán chính xác nhất…

Phá Tí Ngọ trưởng phiêu lưu

Thủy Kim hợp cách, Sửu Mùi Khúc Xương

Dần Thân không Kiếp cơ hàn

Cự Cơ Mão Dậu phúc càng thêm hay

Thìn Tuất Tham Vũ cũng hay

Chớ ai Tị Hợi phúc bầy Không Vong

Thất Sát tròn thẳng mà dài

Tham lang Phượng Cát là loài chim muông

Liêm trinh ngộ Hỏa tiêm đầu

Thiên Lương có chẩm gối đầu thảnh thơi

Hai Quan Tướng Phá cùng ngồi

Tướng trong là giáp tướng ngoài là chiêng

Tổ sớm Tử Phủ một miền

Những sinh có nước tả truyền hữu lai

Phòng văn đồ duệ án tiền

Tân giêng tân bút chấn canh cổ kỳ

Cô Hoa lộc, bảng Khoá Khoa

Ngựa đi Thiên Mã voi quỳ Kình Dương

Văn Khôi Vũ việt thinh đường

Tả Long hữu Hổ thuận tường phân kim

Kiếp Không, Tuần triệt gia liên

Có ông mất mả ở miền quan sơn

Tang Môn Cô Quả Đào Hồng

Họ hàng có kẻ goá chồng cô đơn

Khốc Hư Cơ Cự muôn vàn

Đường đi lẩn quất Vũ nhàn Triệt không

Đà tiền ngộ Mã Tướng xung

Trai bị hình ngục gái phòng nghiệt thương

Rễ cây khôn tránh khỏi đường

Phá Liêm Mão Dậu Điếu Tang một toà

Lộc nhàn Mã ngộ Kiếp Không

Long phi Hổ tấu một dòng phiên lưu

Lộ bằng Triệt ngộ Phá Quân

Đà La diệu táng mộ phần đảo thi

Mã Đà gái lấy chồng xa

Thiên Cơ Hư nhuận bệnh ra điên cuồng

Thái Dương tam đại mộ phần

Thái Âm tam đại âm nhân rõ ràng

Ngộ hãm tứ đại tổ đường

Thiên Đồng tam đại thời phân bốn đời

Vũ Khúc thiên Tướng năm đời

Cơ Tham thứ sáu bẩy đời cự Lương

Tả phụ thượng tổ ngôi Dương

Hoa cái mộ mới cũng ngôi Hỉ Thần.

Bạn đang xem: Phúc đức vô chính diệu

( Trích Tử Vi Áo Bí của Việt Viêm Tử )


Mục lục bài viết


Cung Phúc Đức Phi Hóa
Cung phúc đức phi Hóa Lộc
Cung phúc đức phi Hóa Quyền
Cung phúc đức phi Hóa Khoa
Cung phúc đức phi Hóa Kị
Phụ tinh cư cung Phúc Đức
Cung Phúc Đức và Mộ Phần (Âm Phần – Âm Trạch)

Luận cung Phúc Đức

Tác dụng của Cung Phúc Đức trong môn Tử Vi là dùng để luận đoán hoạt động tư tưởng và sự hưởng thụ tinh thần của một người. Nếu so với cung mệnh và cung thân, có thể nói cung mệnh và cung thân là chủ về hưởng thụ vật chất, vận trình thực tế. Còn Cung Phúc Đức thì chủ về những thứ trừu tượng hơn.

Có một số người nhìn bề ngoài thì thấy danh thành công toại, khiến người ta phải ngưỡng mộ. Nhưng có thể nội tâm của anh ta đang đau khổ mà người ngoài cuộc không biết. Đây là vì cung mệnh và cung thân của anh ta tốt, nhưng Cung Phúc Đức lại có những khiếm khuyết đáng tiếc. Hoặc ngược lại, có một số người chỉ được no ấm thôi, nhưng nội tâm của họ lại rất vui vẻ, đây là do cung mệnh và cung thân không tốt mấy, nhưng Cung Phúc Đức lại tốt.

*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*
*

Âm phần chi phối một phần lớn sự yểu thọ và phúc đức của một người cũng như sự tụ tán của cả một họ. Sau khi đã luận đoán phúc đức, cũng cần phải luận đoán âm phần để biết rõ ngôi mộ mà mình chịu ảnh hưởng.

Hình sắc và thế đất của âm phần

Tử Vi: mộ tổ xa đời (thường là năm đời), thế đất to lớn gần núi đồi, linh khí từ phía tay trái triều lại
Liêm Trinh: mộ chú, nếu lúc sinh ra đời chú đã khuất bóng hay là mộ ông chú, nếu chú còn, ông chú đã mất. Đất khô khan, gồ ghề, nổi cao như hình người ngồi, lại có sắc đỏ hay vàng.Thiên Đồng: mộ tổ bốn đời, để nơi đất trũng, xung quanh có nước.Vũ Khúc: mộ tổ năm đời, đát cao trơ trọi, cỏ hình như quả chuông dựng đứng.Thái Dương: mộ cha, nếu lúc sinh ra đời cha đã khuất bóng hay là mộ ông nội nếu cha còn, ông đã mất hay là mộ cụ nội ông nếu cha ông còn, cụ đã mất. Đất bằng phẳng.Thiên Cơ: mộ ông nội, nếu lúc sinh ra đời ông đã khuất bóng hay là mộ cụ nội, nếu ông còn, cụ đã mất. Đất rất tốt nên nhiều cây có mọc rậm rạp.Thiên Phủ: mộ tổ xa đời (thường là năm đời), thế đất to lớn gần núi đồi, linh khí từ phía tay phải triều lại.Thái Âm: mộ mẹ, nếu lúc sinh ra đời, mẹ vừa khuất bóng hay là mộ bà nội, nếu mẹ còn, bà đã khuất hay là mộ cụ nội bà, nếu mẹ bà còn, cụ đã mất. Thế đất hơi cao, chạy dài và uốn cong như hình bán nguyệt.Tham Lang: mộ tổ xa đời (thường là sáu hay bảy đời). đất nổi cao như hình con chó ngồi, sắc đen như bùn có nhiều cây cỏ mọc rậm rạр.Cự Môn: mộ bác ruột, nếu lúc sinh ra đời, bác đã khuất bóng hay là mộ ông bác (bên nội) nếu bác còn, ông bác đã mất. Đất vuông vắn, thường ở gần đình sở hay lâu đài, đào sâu, thấy ở dưới có lớp đất màu vàng.Thiên Tướng: mộ tổ năm đời. Đất nổi cao và vuông vắn như hình cái ấn.Thiên Lương: mộ tổ bốn đời. Đất rời rạc, lẫn nhiều cát, có hình như cái thoi dệt vải, thường ở gần đường đi, lối lại.Thất Sát: mộ tổ năm đời. Đất khô, nóng, có sắc đỏ và có hình như thân cây dài nằm ngang.Phá Quân: mộ tổ bốn đời. Đất tan lở, không có hình thể nhất định.Kình Dương: Nếu Sáng sủa tốt đẹp (tọa thủ tại Tứ Mộ): Hình đất giống như con voi qùy. Nếu Mờ ám xấu xa (tọa thủ tại Tứ Sinh, Tứ Tuyệt): hình đất giống như mũi dùi, tháp bút hay cái răng nhọn.Đà La: đất lẫn cát, có hình cái răng hay hình mũi nhọn.Hỏa Tinh, Linh Tinh: đất nóng, có hình cái sào dài
Địa Không, Địa Kiếp: đất khô nóng. Trong họ có nhiều mồ mả bị thất lạc, đã lâu ngày không tìm thấy.Văn Xương: đất rắn (cứng), có hình tròn.Văn Khúc: có dòng nước chảy lượn quanh mộ.Thiên Khôi: đất nổi cao, giống như cái mũ.Thiên Việt: hình dài giống như cái búa.Tả Phụ, Hữu Bật: thế đất cao đẹp, có hình giống như cạp chiếu nổi cao.Lộc Tồn: đất có hình giống như lưỡi thương.Hóa Lộc: đất có hình giống như lá cờ hay lưỡi thương. Đào sâu, sẽ thấy ở dưới có nhiều kim khí vụn vặt.Hóa Quyền: hình đất giống như cái yên ngựa. Nếu không phải như thế, tất ở gần mộ, có một bụi cây to cung giống nhu yên ngựa.Hóa Khoa: hình đất giống như cái bảng.Hóa Kỵ: đất úng thủy, lẫn bùn lầy. Mộ dễ ở chỗ trũng.Song Hao: đất khô, nóng và tan lở.Tang Môn: đất khô nóng.Bạch Hổ: đất có lẫn nhiều đá.Thiên Khốc, Thiên Hư: đất hư nát và tan lở. Trong mộ có mối, mọt hay chuột làm ổ.Thiên Mã: đất có hình giống như con ngựa.Thái Tuế: đất rắn, khô khan, nổi gò lên như hình sống trâu.Long Trì: gần mộ có ao hay giếng.Phượng Các: mộ để ở gần nơi có nhiều nhà cửa, lâu đài. Đất đỏ, có hình giống như cánh phượng.Đào Hoa: đất hình tròn và nổi cao như hình cái bát úp.Hồng Loan: đất có hình giống như cái cung hay cái mí mắt. Thường gọi là thế đất Nga mi.Thiên Hỷ: đất có lẫn nhiều bùn lầy, cát, hay phù sa.Thiên Hình: đất có hình giống như lưỡi đao, lẫn nhiều mành sành, mảnh chai và kim khí vụn vặt.Thiên Riêu: có dòng nước chảy xói vào lòng mộ.Quan, Phúc: mộ để ở gần đình, đền hay chùa.Ân Quang, Thiên Qúy: có ân nhân tìm đất đế giúp mộ mả.Thai Phụ: đất hình vuông giống như cái nón.Phong Cáo: đất hình vuông giống như cái chiếu.Hoa Cái: đất có hình giống như bông hoa nở, giống như cái lọng xòe hay cái bát úp.Tam Thai: đất hình tam tinh.Bát Tọa: thế đất giống như tám ngôi sao dàn bày rất cân đối.Thanh Long: mộ để ở gần sông ngòi. Đất có hình giống như người cầm gươm.Tướng Quân: đất có hình giống như áo giáp.Tấu Thư: mộ để ở chỗ thấp, trũng. Có thế đất như hình con rồng chầu một bên.Phi Liêm: mộ để ở gần núi hay đồi trơ trọi. Đất khô nóng và tan lở.Hỷ Thần: đất bằng phẳng và có lẫn nhiều cát.Bệnh Phù: đất có hình giống như cái đai. Có dòng nước ngầm chảy xói vào lòng mộ.Phục Binh: đất có hình giống như cái chiêng, hay có hình như người lính cầm gươm.Trường Sinh: đất úng thủy, сó dòng nước nhỏ chảy uốn lượn quanh mộ.Mộc Dục: mộ thường gần suối hay lạch nước nên đất ẩm ướt.Quan Đới: đất hình bán nguyệt.Suy: đất khô, trơ trụi, nổi gồ lên như hình sống trâu.Bệnh: đất ẩm ướt và uế tạp.Tử: có dòng nước nhỏ chảy lượn quanh mộ.Mộ: gần mộ có lạch nước.Thai: có dòng nước ngầm chảy vào trong mộ.Dưỡng: có dòng nước ở nơi thật xa chảy đến lượn quanh mộ.

Tuần:

Chiếu: gần mộ có khoảng đất trơ trụi và rất rộng.Án ngữ: mộ đế ở nơi đất hung và hoang vắng. Địa khí ở xa không thể đến được vì đã bị chắn.Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: cát khí càng ngày càng tiêu hao, hung khí phát ra rất mạnh mẽ. Vậy cho nên họ hàng đời trước khá giả, đến đời này suy bại và ly tán.Nhiều sao mờ ám xấu xa: cát khí càng ngày càng phát ra mạnh mẽ, hung khí tiêu hao dần dần. Vậy cho nên họ hàng đời trước ly tán, lụn bại, có nhiều người cùng khổ, hay mắc tai họa, chết non, đến đời nay khá giả, có nhiều người qúy hiển, giàu sang và sống lâu.

Triệt:

Chiếu: gần mộ có đường đi, ngõ hẻm, cầu cống hay hố vực.Án ngữ: mộ để ở sát đường đi, ngõ hẻm, cầu cống hay hố vực. Địa khí ở xa đến, cát hóa hung, hung hóa cát.Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: địa khí bị tỏa chiết vì đất bị đào bới, xẻ cắt, hay vì có sự xây cất ngăn chặn, cũng có thổ là mộ bị tan lở, hay thất lạc lâu ngày không tìm thấy. Cát khí càng ngày càng tiêu hao, hung khí phát ra rất mạnh mẽ. Vậy cho nên họ hàng đời trước khá giả, đến đời này suy bại và ly tán.Nhiều sao mờ ám xấu xa: địa khí bị tỏa chiết vì đất bị đào bới, xẻ cắt, hay vì có sự xây cất ngăn chặn, cũng có thổ là mộ bị tan lở, hay thất lạc lâu ngày không tìm thấy. Nhưng may mắn cát khí càng ngày càng phát ra mạnh mẽ, kết hợp rất tốt đẹp, hung khí tiêu hao dần dần. Vậy cho nên họ hàng đời trước ly tán, suy bại, đến đời nay khá giả, có nhiều người qúy hiển, giàu sang.

Quy định ảnh hưởng của âm phần

Cung Phúc Đức có một Chính diệu tọa thủ: xem Chính diệu tượng trưng cho ngôi mộ nào, tất chịu ảnh hưởng của ngôi mộ đó.

Cung Phúc Đức có hai Chính diệu tọa thủ đồng cung phải nhận định tùy theo trường hợp sau đây:

Hai Chính diệu cùng thuộc một hành: chịu ảnh hưởng của cả hai ngôi mộ để ở gần nhau, mà mỗi ngôi đã được tượng trưng bởi một Chính diệu.

Thí dụ: Cung Phúc Đức an tại Sửu, có Cự, Đồng tọa thủ đồng cung. Vì Cự, Đồng cùng thuộc Thủy, nên phải chịu ảnh hưởng của ngôi mộ bác hay ông bác, tượng trưng bởi Cự và ngôi mộ tổ bốn đời tượng trưng bởi Đồng đế ở gần nhau.

Hai Chính diệu không thuộc một hành:

Một trong hai Chính diệu sinh được Bản Mệnh: chịu ảnh hưởng của ngôi mộ được tượng trưng bởi Chính diệu đó.

Thí dụ: Cung Phúc Đức an tại Dần, có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung, Bản Mệnh thuộc Thổ. Nhật thuộc Hỏa, tượng trưng ngôi mộ ông nội hay cụ nội, sinh được Thổ Mệnh. Vậy Thổ Mệnh chịu ảnh hưởng của ngôi mộ ông nội hay cụ nội, được tượng trưng bởi Nhật. Còn Cự thuộc Thủy, tượng trưng ngôi mộ bác hay ông bác không sinh được Thổ Mệnh, nên được kể đến. Mặc dầu ngôi mộ bác hay ông bác, tượng trưng bởi Cự, để ở gần ngôi mộ ông nội hay cụ nội, tượng trưng bởi Nhật, cũng không có ảnh hưởng gì đối với Thổ Mệnh ở trên.

Một trong hai Chính diệu không sinh được Bản Mệnh: Xem Bản Mệnh sinh được Chính diệu nào, tất chịu ảnh hưởng của ngôi mộ được tượng trưng bởi Chính diệu đó.

Thí dụ: Cung Phúc Đức an Tại Mão, có Cự, Cơ tọa thủ đồng cung, Bản Mệnh thuộc Kim. Cơ thuộc Thủy không sinh được Kim Mệnh. Còn Cự thuộc Mộc lại khắc Kim Mệnh. Ngược lại Kim Mệnh sinh được Cự thuộc Thủy, tượng trưng ngồi mộ bác hay ông bác. Vậy Kim Mệnh chịu ảnh hưởng của ngôi mộ bác hay ông bác, tượng trưng bởi Cự, và không chịu ảnh hưởng của ngôi mộ ông nội, tượng trưng bởi Cơ, mặc dầu hai ngôi mộ này để ở gần nhau.

Một trong hai Chính diệu không sinh được Bản Mệnh, Bản Mệnh cũng không sinh được một trong hai Chính diệu. Xem Bản Mệnh hòa với Chính diệu nào, tất chịu ảnh hưởng của ngôi mộ được tượng trưng bởi Chính diệu đó.

Thí dụ: Cung Phúc Đức an tại Ngọ có Tướng, Liêm tọa thủ đồng cung, Bản Mệnh thuộc Thủy, Tướng thuộc Thủy, tượng trưng ngôi mộ chú hay ông chú. Liêm thuộc Hỏa, tượng trưng ngôi mộ tổ năm đời. Thủy Mệnh hòa với Tướng thuộc Thủy và khắc Liêm thuộc Hỏa. Vậy Thủy Mệnh chịu ảnh hưởng của ngôi mộ chú hay ông chú, tượng trưng bởi Tướng và không chịu ảnh hưởng của ngôi mộ tổ năm đời, tượng trưng bởi Liêm, mặc dầu hai ngôi mộ này để ở gần nhau.

Cung Phúc Đức vô Chính diệu: coi Chính diệu xung chiếu như Chính diệu tọa thủ.

Vị trí của âm phần

Cung Phức Đức: chính mộ.Cung đằng trước: tả (mặt trước)Cung đằng sau: hữu (mặt sau).Cung xung chiếu: tiền án.Hai cung hợp chiếu: một là Long (bên trái) một là Hổ (bên phải).

Thay lời kết

Tóm lại, tác dụng của Cung Phúc Đức trong Lá Số Tử Vi là dùng để luận đoán về mặt tư tưởng, tinh thần của đương số, xem xét chuyên sâu về mặt nội tâm của nhân vật. Trong thực tế thì tinh thần thoải mái vui vẻ hay u uất buồn phiền rất có thể sẽ trái ngược với những thành quả mà người đó đạt được trong xã hội. Tuy nhiên, tiền bạc và tư tưởng là 2 phạm trù không thể tách rời. Chính vì thế mà cổ nhân đã đặt 2 cung Phúc Đức và Tài bạch xung chiếu nhau nhằm ám chỉ sinh hoạt tinh thần cỡ nào cũng ko tránh khỏi chữ Tiền…. Bạn đọc cần cân nhắc cẩn thận trước khi luận đoán Phúc Đức Cung…

Mệnh Vô chính diệu không gặp Tuần Triệt

Người có mệnh Vô Chính Diệu thì lúc còn nhỏ vất vả, ốm đau, vất vả. Khi lớn lên người yếu, dễ ốm vặt, người xanh xao. Thường hay mắc bệnh dị ứng hoặc trong đời có lần mắc bệnh dị ứng. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nên làm còn nuôi họ khác. Nếu gần cha mẹ thì kinh tế cha mẹ kém đi hoặc gia đình trục trặc. Người mệnh này sớm xa nhà, mưu sinh nơi đất khách quê người. Lập nghiệp xa nhà sẽ tốt hơn. Thường thọ mạng sẽ không cao nếu không có Tuần Triệt hoặc chính tinh tốt chính chiếu.

Xem thêm: Nháy mắt phải liên tục nhiều ngày, là hên hay xui

Mệnh này thuộc khối hỗ trợ, làm phó thì bền, làm trưởng thì không bền, không thể đứng mũi chịu sào, hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là hay nhất. Người này thường không có lập trường vững vàng, tư tưởng không nhất định, dễ bị ngoại cảnh và người khác chi phối, điều khiển nên thường khó thành công nếu làm chủ. 

Mệnh không có chính tinh tọa thủ thì mưu sự cho người thì dễ, mà cho chính bản thân mình thì khó. Họ có khả năng dự thảo kế hoạch nhưng chỉ thuận lợi khi họ làm cho người khác. Còn đối với bản thân họ thì lại trái ngược. Họ thường khó đạt được những gì mà họ dự tính cho chính mình.

Ảnh hưởng của cung Mệnh VCD mạnh nhất là trong khoảng tiền vận của cuộc đời. Càng lớn tuổi thì ảnh hưởng này càng giảm đi. Người VCD thường lao đao vất vả trong buổi thiếu thời. Chỉ bắt đầu khá từ trung vận và càng về già thì cuộc sống càng ổn định hơn. Thường trước 30 tuổi khó có thành tựu. Khi luận giải ta lấy tính chất chính tinh xung chiếu để luận giải thêm. Tuy nhiên mức độ ứng hợp chỉ khoảng 70%.

Cung Mệnh Vô Chính Diệu gặp Tuần Triệt

Nếu mệnh VCD mà gặp Tuần Triệt thì luận giải hết sức chú ý. Vì độ tốt xấu của cung lúc này khó phân định. Khi có Tuần Triệt án ngữ, ban đầu mệnh tuy gặp khó khăn trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi, tốt đẹp hơn. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu, nếu có, chiếu về cung Vô Chính Diệu, và giải cứu được trường hợp phi yểu tác bần. Tuy nhiên nó cũng cản luôn các sao tốt chiếu đến.

Cung vô chính diệu trong tam hợp có Tuần trung không vong, Triệt Lộ không vong, Địa Không/ Thiên Không chiếu về gọi là cách “vô chính diệu đắc Tam không, phú quý khả kỳ”. Đây là cách tay trắng lập nghiệp, từ không mà thành có. Nhưng phú quý cũng chỉ được theo đại vận chứ không phải là cả đời. Cung vô chính diệu cần nhất là Tuần, Triệt án ngữ giữ lại. Như thế thì dù lúc vận kém nhất vẫn không đến mức trắng tay.

Mênh vô chính diệu đẹp nhất là cách Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về. Trường này có đủ bộ Âm Dương sáng sủa tại Mão và Hợi chiếu. Âm Dương đồng cung Sửu Mùi không đẹp bằng vì Nhật Nguyệt 1 sáng 1 tối. Không lấy các chính tinh xung chiếu bởi vì quy luật của Nhật Nguyệt là chiếu đẹp hơn tọa thủ.

*

Giải mã 12 cung Vô chính diệu trong Tử Vi

Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu

Khi lập lá số Tử Vi, gặp cung Phụ Mẫu không có chính tinh tọa thủ. Lúc này, đương số phải tự tay tạo lập cuộc sống, không được hưởng di sản của cha mẹ, thường phải xa cách cha mẹ, ly hương lập nghiệp. Gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì phụ mẫu tốt hơn nhưng lại dễ khắc cha mẹ, hoặc phải sớm xa cách cha mẹ, hoặc làm con nuôi người khác. Nên sớm xa gia đình, xuất ngoại thì mới có thể có công danh.

Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu 

Thường phải xa cách họ hàng hoặc anh em. Phúc rất kỵ Tuần Triệt nên dù Phúc vô chính diệu gặp Tuần Triệt thường không được hưởng phúc, dòng họ ly tán. Thân tâm vất vả, tự mình làm nên, không được sự hỗ trợ của dòng tộc, phải ly hương lập nghiệp, xa cách họ hàng người thân. 

Cung Điền Trạch Vô Chính Diệu

Điền sản thường rất chậm có và hay thay đổi, lên xuống, không bền. Gặp Tuần Triệt án ngữ thì tốt đẹp trước trắc trở, sau mới dễ dàng thuận lợi. Thường hay thay đổi chỗ ở, ở những nơi chung đụng với người khác. Tuổi trẻ khó tậu điền đất nhưng cũng tùy cách cục. Điền VCD thường không lợi đứng tên nhà đất, BĐS nhưng nếu cách cục đẹp thì có nhiều BĐS ngầm, do người khác đứng tên. Cũng lợi nếu đứng tên chung với người khác, cổ phần vào đất, nhà xưởng. Nếu có Tuần Triệt án ngữ thì về già mới giữ được 1-2 mảnh đất căn nhà. Nếu không về già sợ là không còn điền sản.

Gặp Thái Âm sáng sủa hội chiếu thì trước trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, rất nhiều nhà đất về sau. 

Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu 

Người mà cung Quan Lộc không có chính tinh tọa thủ thì nghề nghiệp thường thay đổi, hoặc chậm có công danh, công danh khó hiển đạt, phát danh hoặc thường đứng sau người khác. Địa vị chức vụ thăng tiến nhưng không quá cao, lên cao thường không bền. Hay phải phụ thuộc vào người khác. Thường làm nhiều mà không được ghi nhận, hưởng thành quả xứng đáng. Nhiều thời điểm phải làm việc âm thầm, bí mật không ai biết đến.

Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì tốt hơn, nhưng vẫn chậm muộn công danh. Trước bị trở ngại, nhưng sau an ổn địa vị chức vụ. Tuy Tuần Triệt mang ý nghĩa gây trục trặc cho quan trường. Gặp Triệt thì thăng giáng thất thường. Gặp Tuần thì khó lên danh nhưng lên rồi khó xuống. 

Quan VCD thì không nên đặt nặng địa vị chức vụ vì sẽ khó được như ý. Nên tập trung làm chuyên môn thay vì theo đuổi danh vọng, quyền lực. Tùy theo tam hợp Mệnh Tài quan có bộ cách cục gì mà chọn đường hướng cho phù hợp. Ví dụ Tướng Phủ triều viên thì làm kỹ sư, chuyên viên, Cự Nhật thì làm môi giới trung gian tư vấn. Cơ Cự Đồng thì làm phụ tá…

Cung Nô Bộc Vô Chính Diệu

Nô bộc VCD thì thường không được nhờ Nô. Trừ các trường hợp Nô vô chính diệu đắc Tam không thì tốt, bạn bè tôi tớ đắc lực. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu tốt đẹp, được bạn bè giúp đỡ, bạn bè khá giả, người làm có năng lực. Thông thường Nô vô chính diệu thì bạn bè và người giúp việc không bền, dễ ly tán, hay thay đổi, nô bộc vào ra liên tục. Trước mướn người khó khăn, sau thì dễ hơn. 

Cung Thiên Di Vô Chính Diệu

Thiên Di Vô Chính Diệu thường thì không thể giàu có lớn được. Ra ngoài dễ bị chi phối bởi môi trường, ngoại cảnh. Dễ bị môi trường hoàn cảnh con người bên ngoài lấn át, không nhận được nhiều sự hỗ trợ. Hung sát tinh độc thủ, ra ngoài dễ tai nạn tai ách, lừa gạt, cướp giật. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì tốt đẹp, gặp thuận lợi khi ra ngoài. Thiên Di không có chính tinh đương số có xu hướng ở nơi bản quán quê hương lập nghiệp hơn là xuất ngoại.

Cung Tật Ách Vô Chính Diệu

Ít bệnh tật tai họa nhưng tai họa đến thì khó tránh khỏi. Tuần Triệt án ngữ tốt, ít bệnh tật, tai họa. Cung ách đẹp nhất là vô chính diệu chủ không có bệnh nặng, tai họa lớn.

Cung Tài Bạch Vô Chính Diệu

Tài Vô Chính Diệu thì tiền bạc tài chính không đều đặn, lúc có lúc không. Tài lộc không bền vững, không thể giàu có lớn được, vất vả vì tiền bạc. Nếu Tuần Triệt án ngữ thì ban đầu thường khó khăn về tiền bạc. Sau mới thuận lợi nếu được nhiều sao tốt hội chiếu. Nếu rơi vào trường hợp có hung tinh đắc địa độc thủ thì hoạch phát hoạch phá, không bền, chỉ có một giai đoạn. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu là tốt đẹp, nhiều tiền của về hậu vận.

Tài vô chính diệu đắc tam không thì giàu có lớn nhưng thường theo giai đoạn. Người có Tài vô chính diệu thì khả năng quản lý tài chính không tốt, tiền tài khó tụ, dễ tiêu hoang không kiểm soát. Lúc có tiền thì tiêu xài thoải mái hưởng thụ, vung tay quá trán. Lúc hết tiền thì chi li tính toán từng đồng một, lại lao vào kiếm tiền. Người này nếu giữ tiền mặt trong người hoặc tài khoản thì không bền. Tốt nhất nên quy thành các hiện vật, đầu tư vào tài sản cố định mới mong giữ được tiền. Hơn nữa người khác nhìn vào không thể đoán biết tình trạng tài chính của đương số. 

Lời khuyên nên giữ bí mật về kế hoạch tài chính, tổng tài sản. Tài vô chính diệu nhiều người giàu ngầm là vì thế. Càng kín tiếng càng giữ được tài sản. Họ cũng dễ có tài sản nhờ người khác đứng tên giúp.

Cung Tử Tức Vô Chính Diệu

Tử Tức Vô Chính Diệu thì hiếm con, ít con, chậm con, hoặc không nhờ cậy được con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi, hay lo lắng vất vả đường con cái. Tuần Triệt án ngữ thường chậm có con hoặc sinh con ban đầu khó nuôi. Hung tinh đắc địa độc thủ, con cái khó nuôi con hoặc muộn sinh con. Con cái không hợp với cha mẹ. Có Nhật Nguyệt chiếu thì con cái học hành giỏi dang.

Cung Phu thê Vô Chính Diệu

Người có lá số tử vi cung Phu Thê Vô Chính Diệu thường không được nhờ vợ/chồng, phải tự lo toan quán xuyến mọi việc. Nên kết hôn sau mốc đại vận của cung Phu thê để tránh những sự chẳng lành. Cung Phu Thê vô chính diệu thì dù trong tam phương tứ chính có các sao tốt đẹp chầu về thì cũng không được hưởng. Ngược lại nếu có sát tinh xung phá thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến mối quan hệ.

Phu thê vô chính diệu thì phu thê bị ẩn đi nên luận giải vì thế cũng thiên hình vạn trạng. Nhiều người là vợ lẽ, vợ không chính thức, không đăng ký kết hôn hoặc không tổ chức lễ cưới. Người khác nhìn vào không thể biết nhiều về người phối ngẫu của họ. Hoặc người phối ngẫu làm các công việc hoạt động bí mật. Hoặc vợ chồng sống kín tiếng, ít công khai với người ngoài. Như vậy cũng phần nào ứng hạp lá số và hóa giải cho cung Phu thê. Vợ chồng thường việc ai nấy làm ít liên quan đến nhau.

Cung này cũng rất cần Tuần, Triệt Án ngữ thì trước xấu sau tốt, giữ được mối quan hệ. Vợ chồng vẫn có thể ăn đời ở kiếp với nhau. Nếu không có Tuần Triệt thì Phu Thê vô chính diệu vẫn được xem là kém, dễ ly hôn ly dị. Thậm chí không lấy chồng, tùy theo cách cục Phúc Phối Di và tuổi của người phối ngẫu. Trường hợp Mệnh đẹp, Phúc đẹp thì Phu Thê vô chính diệu không luận là xấu, chỉ là người phối ngẫu ở thế yếu hơn mình. Phu thê tầm thường, không được như bản thân kì vọng.

Cung Huynh Đệ Vô chính Diệu

Thường không ở gần anh chị em, không được nhờ cậy, anh em ly tán nếu cung Huynh Đệ VCD. Tuần Triệt án ngữ thì tốt hơn, anh em khá giả về hậu vận, còn tiền vận thì long đong. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu, anh em thương nhau, gặp Tuần Triệt án ngữ thì càng tốt hơn.

Hạn Vô Chính Diệu

Trường hợp đại hạn hoặc tiểu hạn trên lá số Tử Vi VCD thì vận đó mọi sự đều không cảm thấy ưng ý. Không thể phát trong giai đoạn này được, thường có nhiều sự thay đổi về công việc, nơi ở,… Thường tránh mưu sự lớn trong giai đoạn này.

Các cung vô chính diệu như nhà không có nóc. Nếu không đủ bộ đủ cách và gia hội thêm sát bại tinh thì xấu, kém, cần phải hóa giải. Kỹ thuật luận đoán cung Vô chính diệu rất khó, trên đây chỉ là đôi điều đơn giản để bạn đọc dễ hình dung. Còn tùy thuộc cụ thể từng lá số mới có lời giải đoán chính xác. Cung VCD nào cũng có cách hóa giải, biết chế khắc điểm yếu, biến nó thành điểm mạnh mới là đỉnh cao xem mệnh qua lá số Tử Vi.